KẾT QUẢ NIPT SAI CÓ THỂ LÀ DẤU HIỆU ÁC TÍNH Ở MẸ

Giải trình tự cf-DNA lưu hành trong huyết tương của phụ nữ mang thai để sàng lọc các lệch bội nhiễm sắc thể phổ biến của thai nhi là ứng dụng được triển khai rộng rãi đầu tiên của y học hệ gen. Phương pháp này lần đầu tiên được đưa vào lâm sàng là năm 2011.[1] Tuy nhiên, vào đầu năm 2013, các trường hợp kết quả dương tính giả đã bắt đầu xuất hiện trong ghi chép chuyên môn, trong đó kết quả xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm lấn (NIPT) đã báo cáo những lệch bội nhiễm sắc thể, nhưng nhiễm sắc thể đồ của thai nhi hoặc microarray lại là lưỡng bội bình thường.[2]

Lời giải thích đằng sau cho các kết quả trái ngược này có vẻ là do khảm nhau thai hoặc song thai tiêu biến. Bệnh ác tính ở người mẹ ban đầu không được xem xét trong chẩn đoán phân biệt, vì ung thư được ước tính chỉ xảy ra ở 1 trong 1000 phụ nữ mang thai.[3] Khi ung thư xảy ra trong thai kỳ, các loại phổ biến nhất là ung thư hạch và không hạch Hodgkin, ung thư vú, buồng trứng và ung thư cổ tử cung, u melanoma ác tính, ung thư đại trực tràng và bệnh bạch cầu.[3] Nhiều trong số các khối u ác tính này, DNA từ khối u được giải phóng trực tiếp vào tuần hoàn. Đây là cơ sở cho ý tưởng đằng sau sinh thiết lỏng.[4] Lý do kết quả NIPT là bất thường khi mẹ mang khối u ác tính là do DNA khối u chứa nhiều vùng lặp và xóa. Điều này làm lệch các tỷ lệ dự kiến ​​giữa DNA bệnh nhân và DNA tham chiếu, dẫn đến xét nghiệm sai hoặc nhiều dị tật bất thường, bao gồm cả các dạng monosomy (chỉ có 1 NST trong một cặp), điều mà sẽ không thể tồn tại ở một bào thai còn sống.

 

Năm 2013, trường hợp bất đồng kết quả NIPT đầu tiên do bệnh ác tính của mẹ đã được công bố.[6] Người phụ nữ 37 tuổi đã có 1 con và đang mang thai bé thứ hai đã làm NIPT khi thai được 13 tuần tuổi. Kết quả là bất thường, với trisomy 13 và monosomy 18 được phát hiện. Xét nghiệm chọc ối xác nhận cho thấy thai nhi có một bộ nhiễm sắc thể đồ của nam, bình thường. Đáng chú ý hơn, sau khi sinh một bé trai khỏe mạnh, cô đã xuất hiện các cơn đau vùng chậu nghiêm trọng, sau đó bác sĩ xác định cô bị gãy xương vùng chậu bệnh lý do ung thư biểu mô tế bào thần kinh di căn. Sau đó, cô đã được điều trị bệnh ác tính của mình và vẫn còn sống 5 năm sau sinh.

Một phụ nữ 37 tuổi khác có kết quả xét nghiệm cf-DNA cho thấy các dạng monosomy một phần hoặc hoàn toàn của nhiễm sắc thể 13, 18, 21 và X, cô không may mắn như trường hợp trước đó.[8] Sau khi chọc ối cho thấy thai nhi là một thai nữ bình thường (46, XX) và một microarray nhiễm sắc thể bình thường, bệnh nhân được chuyển đến bác sĩ chuyên khoa ung thư. Kết quả chụp MRI toàn thân ở tuần thai 23 đã xác định nhiều tổn thương trong gan. Bởi vì bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng, người ta quyết định không thực hiện sinh thiết. Trong chín tuần tiếp theo các tổn thương gan đã phát triển; sinh mổ tự nguyện được tiến hành ở tuần thứ 32 để tạo thuận lợi cho chẩn đoán và điều trị người mẹ. Cô được chẩn đoán mắc ung thư đại tràng giai đoạn IV. Cô đã không đáp ứng với hóa trị và tử vong 10 tháng sau sinh. Kết quả của hai xét nghiệm NIPT khác nhau được thực hiện trong thai kỳ cho thấy số lượng quá lớn các mảnh DNA được ánh xạ tới các nhiễm sắc thể 7, 8, 10, 14 và 20 và các thuật toán tin sinh học đã giải thích kết quả xét nghiệm là đa lệch bội monosomy.

Năm 2015, Bianchi và cộng sự đã thực hiện phân tích hồi cứu dữ liệu lâm sàng và giải trình tự chi tiết bộ gen từ tám phụ nữ có kết quả NIPT dương tính với một hoặc nhiều trường hợp nhiễm sắc thể 13, 18, 21 hoặc X, nhưng thai của họ lưỡng bội bình thường.[9] Bảy trong số tám trường hợp, người mẹ bị ung thư khi có nhiều hơn một dị tật được phát hiện. Các phân tích tin sinh học chi tiết cho thấy các mô hình tăng và giảm số lượng bản sao (CNV) không đặc hiệu trên bộ gen đã được giải quyết sau khi hoàn thành điều trị bệnh ác tính. Trong một nghiên cứu bổ sung bởi một phòng thí nghiệm khác với 55 kết quả NIPT không thể báo cáo được,[5] cũng kiểu “trồi sụt” số bản sao DNA tương tự đã được quan sát thấy trên toàn bộ bộ gen. Thông tin theo dõi lâm sàng có được từ 43 phụ nữ; 40 người trong số họ đã được xác nhận có khối u (18 ác tính, 20 u xơ tử cung lành tính và hai người có khối u trên X quang nhưng không xác nhận bằng bệnh học). 5]

Với số lượng ngày càng tăng những trường hợp phụ nữ được xác định mắc bệnh ung thư sau khi kết quả NIPT bất thường, dấy lên mối quan ngại cho các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe về việc liệu kết quả có nên được tiết lộ và cách họ nên ảnh hưởng đến việc quản lý sau đó. Một cuộc khảo sát với hơn 300 cố vấn di truyền ở Hoa Kỳ[10] đã chỉ ra rằng 77% trong số họ sẽ tiết lộ kết quả NIPT gợi ý bệnh ác tính, nhưng hơn một nửa không thoải mái khi cung cấp tư vấn sau xét nghiệm. Hầu hết các cố vấn di truyền (91%) cảm thấy rằng các hướng dẫn của tổ chức y tế hoặc chỉ dẫn quốc gia liên quan đến việc quản lý lâm sàng là cần thiết.

Trong một bài bình luận gần đây, Carlson và các đồng nghiệp đã tạo ra một thuật toán để hướng dẫn đánh giá sau xét nghiệm đối với những phụ nữ mang thai nghi mắc bệnh ung thư do phát hiện nhiều hơn một loại lệch bội nhờ xét nghiệm NIPT.[11] Các khuyến nghị của họ bao gồm thảo luận về kết quả xét nghiệm với phòng thí nghiệm lâm sàng và thực hiện một điều tra về tiền sử đầy đủ và thăm khám cho bệnh nhân. Các xét nghiệm bổ sung được khuyến nghị bao gồm: xét nghiệm máu toàn phần với phết tế bào ngoại vi, các xét nghiệm chuyển hóa, xét nghiệm máu và xét nghiệm Pap trong phân, chụp X quang ngực và chụp MRI ngực, bụng và xương chậu. Bình luận này không cho biết cụ thể khi nào cần tham khảo ý kiến ​​bác sĩ chuyên khoa ung thư. Nhiều bác sĩ ung thư không nhận thức được thực tế rằng ung thư đang [vô tình] được phát hiện trong thai kỳ thông qua sàng lọc trước sinh để kiểm tra dị tật thai nhi. Lưu ý rằng trong một nghiên cứu khác của Snyder và cộng sự, trong số 39 phụ nữ có kết quả NIPT cho thấy đa lệch bội, chỉ có 7 trường hợp (18%) bị ung thư.[12] Do đó, nếu những khuyến nghị này được thực hiện, sẽ có những phụ nữ sẽ bị chẩn đoán tiêu cực. Mặt khác, trong số 10 trường hợp mắc bệnh ung thư trong nghiên cứu này, 3 trường hợp không có đa lệch bội.[12] Nếu việc chẩn đoán chỉ dành riêng cho các phụ nữ có kết quả đa lệch bội thì sẽ bỏ lỡ một số trường hợp bà bầu thực sự mắc bệnh ác tính.

Một cách tiếp cận khác được thực hiện ở Bỉ, nơi các phát hiện NIPT ngẫu nhiên được tiết lộ thường xuyên, các bác sĩ ung thư thường xuyên được tư vấn và chụp MRI toàn thân thường xuyên nếu hồ sơ trên bộ gen cho thấy nhiều vùng bị lặp và mất.[13] Trong một nghiên cứu, ba trường hợp ác tính được chẩn đoán bằng MRI trước khi có triệu chứng.[14]

Do đó, ở một số nơi trên thế giới, kết quả NIPT gợi ý ung thư được tiết lộ và ảnh hưởng đến việc theo dõi sau xét nghiệm, và ở những nơi khác các kết quả này không được báo cáo. Giới chuyên môn đang đưa ra những tranh luận trái chiều về hai chính sách này.

Nguồn tham khảo :

  1. Bianchi DW, Chiu RWK. Sequencing of circulating cell-free DNA during pregnancy. N Engl J Med 2018;379:464–73. [PubMed] [Google Scholar]
  2. Mennuti MT, Cherry AM, Morrissette JJ, Dugoff L. Is it time to sound an alarm about false-positive cell-free DNA testing for fetal aneuploidy? Am J Obstet Gynecol 2013;209:415–9. [PubMed] [Google Scholar]
  3. Pavlidis NA. Coexistence of pregnancy and malignancy. Oncologist 2002;7(4):279–87. [PubMed] [Google Scholar]
  4. Bianchi DW. Unusual prenatal genomic results provide proof-of-principle of the liquid biopsy for cancer screening. Clin Chem 2018;64(2):254–6. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]
  5. Dharajiya NG, Grosu DS, Farkas DH, et al. Incidental detection of maternal neoplasia in non-invasive prenatal testing. Clin Chem 2018;64(2):329–325. [PubMed] [Google Scholar]
  6. Osborne CM, Hardisty E, Devers P, et al. Discordant noninvasive prenatal testing results in a patient subsequently diagnosed with metastatic disease. Prenat Diagn 2013;33:609–11. [PubMed] [Google Scholar]
  7. https://www.technologyreview.com/s/539276/when-a-fetuss-test-finds-a-mothers-cancer/
  8. Smith J, Kean V, Bianchi DW, et al. Cell-free DNA results lead to unexpected diagnosis. Clin Case Reports 2017;5:1323–6. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]
  9. Bianchi DW, Chudova D, Sehnert AJ, et al. Noninvasive prenatal testing and incidental detection of occult maternal malignancies. JAMA 2015;314(2):162–9. [PubMed] [Google Scholar]
  10. Giles ME, Murphy L, Krstic N, et al. Prenatal cfDNA screening results indicative of maternal neoplasm: survey of current practice and management needs. Prenat Diagn 2017;37:126–32. [PubMed] [Google Scholar]
  11. Carlson LM, Hardisty E, Coombs CC, Vora NL. Maternal malignancy evaluation after discordant cell-free DNA results. Obstet Gynecol 2018;131:464–8. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]
  12. Snyder HL, Curnow KJ, Bhatt S, Bianchi DW. Follow-up of multiple aneuploidies and single monosomies detected by noninvasive prenatal testing: implications for management and counseling. Prenat Diagn 2016;36(3):203–9. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]
  13. Bianchi DW. Cherchez la femme: maternal incidental findings can explain discordant prenatal cell-free DNA sequencing results. Genet Med 2017; December 7 doi: 10.1038/gim.2017.219. [PubMed] [CrossRef]
  14. Amant F, Verheevke M, Wlodarska I, et al. Presymptomatic identification of cancers in pregnant woman during noninvasive prenatal testing. JAMA Oncol 2015;1:814–9. [PubMed] [Google Scholar]

=======================

XÉT NGHIỆM NIPT TẠI GENLAB

Genlab có hệ thống máy xét nghiệm hiện đại bậc nhất Việt Nam, đồng thời, với công nghệ tách chiết độc quyền, Genlab luôn đem lại kết quả chính xác và nhanh nhất !

Genlab là đơn vị đi đầu tại Việt Nam trong xét nghiệm NIPT từ tuần thai RẤT SỚM **

 

Tags: ,