Bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne – Duchenne Muscular Dystrophy

Bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne là gì?

Chứng loạn dưỡng cơ Duchenne (đu-xen), viết tắt là DMD, là một bệnh loạn dưỡng cơ nặng chủ yếu ảnh hưởng đến các bé trai.[2] Yếu cơ thường bắt đầu vào khoảng 4 tuổi và trở nên trầm trọng hơn nhanh chóng.[1] Mất cơ thường xảy ra đầu tiên ở đùi và xương chậu, sau đó là cánh tay, gây khó khăn khi đứng lên;[2] hầu hết không thể đi lại khi 12 tuổi.[1] Các cơ bị ảnh hưởng có thể trông lớn hơn do hàm lượng chất béo tăng lên. Chứng vẹo cột sống cũng phổ biến; một số có thể bị thiểu năng trí tuệ.[2] Nữ giới mang một bản sao gen khiếm khuyết có thể có các triệu chứng nhẹ.

Loạn dưỡng cơ Duchenne ảnh hưởng đến khoảng 1/5.000 bé trai khi sinh trong dân số nói chung.[2] Tuổi thọ trung bình là 26 tuổi;[3] tuy nhiên, nếu được chăm sóc tốt, một số có thể sống đến 30 hoặc 40 tuổi.[2]

Triệu chứng của loạn dưỡng cơ Duchenne

Loạn dưỡng cơ Duchenne gây ra tình trạng yếu cơ dần dần do sự rối loạn, chết của sợi cơ và cơ bị thay thế bằng mô liên kết hoặc chất béo.[2] Các cơ vốn điều khiển được bằng ý muốn sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên, đặc biệt là các cơ ở hông, vùng chậu, đùi, bắp chân. Cuối cùng, tình trạng tiến triển đến vai và cổ, sau đó là cánh tay, cơ hô hấp và các vùng khác. Hiện tượng mệt mỏi cơ là phổ biến.[6]

Các dấu hiệu thường xuất hiện trước 5 tuổi, thậm chí có thể được quan sát thấy ngay từ khi em bé tập bước.[7] Có khó khăn chung với các kỹ năng vận động, có thể dẫn đến việc đi bộ, bước hoặc chạy một cách khó khăn.[8] Các bé trai sẽ ngày càng khó đi lại, khả năng đi lại của thường hoàn toàn mất đi trước 13 tuổi. [8] Hầu hết nam giới bị DMD về cơ bản sẽ “liệt từ cổ trở xuống” ở tuổi 21.[7] Bệnh cơ tim, đặc biệt là bệnh giãn cơ tim, rất phổ biến, gặp ở một nửa số bệnh nhân từ độ tuổi 18.[8] Trong giai đoạn cuối của bệnh, suy hô hấp và suy giảm khả năng nuốt có thể xảy ra, dẫn đến viêm phổi.[11]

loạn dưỡng cơ Duchenne, loạn dưỡng cơ, bệnh DMD là gì, Duchenne Muscular Dystrophin là gì, hậu quả của bệnh loạn dưỡng cơ

Nguyên nhân gây bệnh DMD

%2�"

Loạn dưỡng cơ DMD là do đột biến gen dystrophin tại locus Xp21, nằm trên nhánh ngắn của nhiễm sắc thể X.[15] Dystrophin chịu trách nhiệm kết nối bộ khung tế bào của mỗi tế bào cơ với lớp chất nền ngoại bào; sự thiếu hụt dystrophin cho phép quá nhiều canxi thâm nhập vào màng tế bào cơ.[16] Sự thay đổi canxi và các tín hiệu khác khiến nước ùa vào ty thể (một bào quan quan trọng trong tế bào), sau đó vỡ ra.

loạn dưỡng cơ Duchenne, loạn dưỡng cơ, bệnh DMD là gì, Duchenne Muscular Dystrophin là gì

Trong chứng loạn dưỡng cơ này, rối loạn chức năng ty thể làm tăng tín hiệu canxi nội bào và tăng sản xuất các gốc oxy tự do. Những hiện tượng này làm tổn hại đến màng bao cơ và cuối cùng dẫn đến sự chết của tế bào. Các sợi cơ bị hoại tử và cuối cùng được thay thế bằng mô mỡ và mô liên kết.

DMD được di truyền theo kiểu gen lặn liên kết NST X. Phụ nữ thường là người mang đặc điểm di truyền của bệnh (vì nữ có 2 NST X) nhưng nam giới dễ bị ảnh hưởng về kiểu hình (vì nam có 1 NST X). Những phụ nữ mang gen bệnh lặn liên kết với X, như DMD, có thể biểu hiện các triệu chứng tùy thuộc vào kiểu bất hoạt X. DMD có tỷ lệ mắc bệnh là một trong 3.600 trẻ sơ sinh nam.[11] Các đột biến trong gen dystrophin có thể được di truyền hoặc xảy ra một cách tự phát trong quá trình truyền dòng mầm.

Bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne được chẩn đoán như thế nào?

DMD có thể được phát hiện với độ chính xác khoảng 95% bằng các nghiên cứu di truyền được thực hiện trong thời kỳ mang thai.[11] Mức độ Creatine kinase (CPK-MM) trong máu rất cao. Điện cơ (EMG) cho thấy điểm yếu là do mô cơ bị phá hủy chứ không phải do tổn thương dây thần kinh.

Xét nghiệm DNA

Gen dystrophin đặc trưng ở cơ bao gồm 79 exon; xét nghiệm DNA (xét nghiệm máu) và phân tích thường có thể xác định loại đột biến cụ thể của exon. Xét nghiệm DNA có thể xác nhận chẩn đoán trong hầu hết các trường hợp.[20]

Sinh thiết cơ

Nếu xét nghiệm DNA không tìm thấy đột biến, xét nghiệm sinh thiết cơ có thể được thực hiện. [21] Các xét nghiệm quan trọng được thực hiện trên mẫu sinh thiết cơ là hóa mô miễn dịch, hóa tế bào miễn dịch và lai miễn dịch đối với dystrophin và cần được phân tích bởi một nhà bệnh học thần kinh cơ có kinh nghiệm.[22] Các xét nghiệm này cho biết mẫu mô cơ có protein dystrophin hay không; không có protein này chứng tr người đó đã bị loạn dưỡng cơ Duchenne.

loạn dưỡng cơ Duchenne, loạn dưỡng cơ, bệnh DMD là gì, Duchenne Muscular Dystrophin là gì

Khi có sự hiện diện của dystrophin, các xét nghiệm cho biết số lượng và kích thước phân tử của dystrophin, giúp phân biệt DMD với các kiểu hình bệnh loạn dưỡng cơ nhẹ hơn.[23]

Trong vài năm qua, các xét nghiệm DNA đã được phát triển để phát hiện nhiều đột biến hơn gây ra tình trạng này nên sinh thiết cơ thường ít được yêu cầu để xác nhận bệnh DMD.[24]

Xét nghiệm trước sinh

Xét nghiệm trước sinh có thể được xem xét khi người mẹ là người mang bệnh này hoặc nghi ngờ mang gen bệnh.[25]

Các xét nghiệm trước sinh có thể cho biết liệu thai nhi có mắc một trong những đột biến phổ biến nhất hay không. Nhiều đột biến là nguyên nhân gây ra DMD và một số chưa được xác định, vì vậy xét nghiệm di truyền có thể bị âm tính giả nếu chưa xác nhận được đột biến dystrophin ở mẹ.

Trước khi làm xét nghiệm xâm lấn, việc xác định giới tính thai nhi là rất quan trọng; bởi nam giới có tỉ lệ bị bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne cao hơn nữ giới nhiều lần. Điều này có thể đạt được bằng cách lấy mẫu lông nhung màng đệm (CVS) ở tuần 11–14 và chọc ối ở tuần 15 tuần (hai phương pháp này có tỉ lệ nhỏ gây sảy thai) hoặc siêu âm ở tuần thứ 16. Lấy mẫu máu thai nhi có thể được thực hiện trong khoảng 18 tuần. Một lựa chọn khác trong trường hợp kết quả xét nghiệm di truyền không rõ ràng là sinh thiết cơ thai nhi.

Bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne có chữa khỏi không?

Hiện nay chưa có phương pháp điều trị hoàn toàn bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne. Tuy nhiên liệu pháp gen đã cho thấy một số thành công bước đầu.[27]

Điều trị thường nhằm mục đích kiểm soát sự khởi phát các triệu chứng bệnh, từ đó cải thiện phần nào chất lượng cuộc sống.

Các thuốc có thể được chỉ định cho bệnh này:

Corticosteroid như prednisolone và deflazacort giúp cải thiện sức mạnh và chức năng cơ trong thời gian ngắn, lên đến 2 năm.[29]

Thuốc eteplirsen, một loại oligo antisense, đã được chấp thuận ở Hoa Kỳ để điều trị các đột biến liên quan đến dystrophin exon 51. Tuy nhiên việc chấp thuận của Hoa Kỳ đã gây ra tranh cãi [32] vì eteplirsen không cho thấy được tác dụng lâm sàng;[33] và bị từ chối cấp phép bởi Cơ quan Dược phẩm Châu Âu.[34]

Thuốc ataluren đã được chấp thuận cho một số trường hợp nhất định ở Liên minh Châu Âu.[35] Antisense oligo golodirsen đã được phê duyệt để sử dụng ở Hoa Kỳ vào năm 2019 để điều trị các trường hợp đột biến exon 53 của dystrophin.[36]

Các phương pháp hỗ trợ

Khuyến khích các hoạt động thể chất nhẹ nhàng, không gây ảnh hưởng như bơi lội. Lười hoạt động (chẳng hạn như nghỉ ngơi trên giường) có thể làm trầm trọng thêm bệnh.

Vật lý trị liệu rất hữu ích để duy trì sức mạnh, tính linh hoạt và chức năng của cơ.

Dụng cụ chỉnh hình (chẳng hạn như nẹp và xe lăn) có thể cải thiện khả năng vận động và khả năng tự chăm sóc.

Hỗ trợ hô hấp

Máy thở kiểm soát thể tích cung cấp một thể tích không khí nhất định cho người bệnh qua mỗi lần thở, có giá trị trong việc điều trị những người mắc các vấn đề hô hấp liên quan đến loạn dưỡng cơ. Thiết bị hô hấp này có thể dễ dàng nằm ở phía dưới hoặc phía sau xe lăn.

Điều trị bằng máy thở có thể bắt đầu từ giữa đến cuối tuổi thiếu niên, khi các cơ hô hấp có thể đã bắt đầu suy sụp. Nếu khả năng sống giảm xuống dưới 40% so với bình thường, có thể sử dụng máy thở trong lúc ngủ, bởi lúc này việc thở chủ động của bệnh nhân không còn.

Phòng ngừa

Bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne phát triển do các đột biến tồn tại trên gen, nên cách duy nhất để giảm thiểu tỉ lệ sinh con bị bệnh là tư vấn di truyền tiền hôn nhân. Những cặp vợ chồng có tiền sử gia đình mắc bệnh này đặc biệt nên đi sàng lọc di truyền.

Các phương pháp xét nghiệm trước sinh kể trên cũng có thể được thực hiện để xem thai nhi có mang đột biến gen gây loạn dưỡng cơ hay không, trong trường hợp người mẹ đã được xác nhận có mang đột biến gen dystrophin.

Nếu được chẩn đoán loạn dưỡng cơ Duchennen từ sớm, điều trị sớm có thể giúp làm chậm sự tiến triển của bệnh và cải thiện các triệu chứng.

Tài liệu tham khảo

  1. “NINDS Muscular Dystrophy Information Page”. NINDS. March 4, 2016. Archived from the original on 30 July 2016. Retrieved 12 September 2016.
  2. “Muscular Dystrophy: Hope Through Research”. NINDS. March 4, 2016. Archived from the original on 30 September 2016. Retrieved 12 September2016.
  3. Lisak RP, Truong DD, Carroll W, Bhidayasiri R (2011). International Neurology. Wiley. p. 222. ISBN 9781444317015.
  4. Nozoe KT, Akamine RT, Mazzotti DR, Polesel DN, Grossklauss LF, Tufik S (2016). “Phenotypic contrasts of Duchenne Muscular Dystrophy in women: Two case reports”. Sleep Sci. 9(3): 129–133. doi:10.1016/j.slsci.2016.07.004. PMC 5241604. PMID 28123647.
  5. https://www.npr.org/sections/health-shots/2020/07/27/893289171/a-boy-with-muscular-dystrophy-was-headed-for-a-wheelchair-then-gene-therapy-arri
  6. Angelini, C; Tasca, E (December 2012). “Fatigue in muscular dystrophies”. Neuromuscular Disorders : NMD. 22 Suppl 3: S214-20. doi:10.1016/j.nmd.2012.10.010. PMC 3526799. PMID 23182642.
  7. Rowland, L.P. (1985). “Clinical Perspective: Phenotypic Expression In Muscular Dystrophy”. In Strohman, C.; Wolf, S. (eds.). Gene Expression in Muscle. Advances in Experimental Medicine and Biology. Plenum Press. pp. 3–5. ISBN 978-1-4684-4907-5.
  8. Darras, BT; Urion, DK; Ghosh, PS; Adam, MP; Ardinger, HH; Pagon, RA; Wallace, SE; Bean, LJH; Stephens, K; Amemiya, A (2018). “Dystrophinopathies”. PMID 20301298.
  9. Emery, Alan E. H.; Muntoni, Francesco; Quinlivan, Rosaline C. M. (2015). Duchenne Muscular Dystrophy (Fourth ed.). OUP Oxford. ISBN 978-0-19968148-8. Retrieved 27 May2020.
  10. “Muscular dystrophy – Symptoms and causes”. Archived from the original on 2015-02-06. Retrieved 2015-02-06.
  11. MedlinePlus Encyclopedia: Duchenne muscular dystrophy
  12. Sutherland, DH; Olshen, R; Cooper, L; Wyatt, M; Leach, J; Mubarak, S; Schultz, P (February 1981). “The pathomechanics of gait in Duchenne muscular dystrophy”. Developmental medicine and child neurology. 23(1): 3–22. doi:10.1111/j.1469-8749.1981.tb08442.x. PMID 7202868.
  13. Baptista, CR; Costa, AA; Pizzato, TM; Souza, FB; Mattiello-Sverzut, AC (2014). “Postural alignment in children with Duchenne muscular dystrophy and its relationship with balance”. Brazilian journal of physical therapy. 18(2): 119–26. doi:10.1590/s1413-35552012005000152. PMID 24838810.
  14. Doorenweerd, N; Mahfouz, A; van Putten, M; Kaliyaperumal, R; T’ Hoen, PAC; Hendriksen, JGM; Aartsma-Rus, AM; Verschuuren, JJGM; Niks, EH; Reinders, MJT; Kan, HE; Lelieveldt, BPF (3 October 2017). “Timing and localization of human dystrophin isoform expression provide insights into the cognitive phenotype of Duchenne muscular dystrophy”. Scientific reports. 7(1): 12575. doi:1038/s41598-017-12981-5PMID28974727.
  15. Online Mendelian Inheritance in Man(OMIM): Muscular Dystrophy, Duchenne Type; DMD – 310200
  16. “Duchenne Muscular Dystrophy: Pathophysiological Implications of Mitochondrial Calcium Signaling and ROS Production”. 2012-05-02. Archived from the original on May 2, 2012. Retrieved 2014-06-29.
  17. Wahl, Margaret (October 21, 2016). “Quest – Article – But Girls Don’t Get Duchenne, or Do They? – A Quest Article”. Muscular Dystrophy Association. Retrieved July 6,2019.
  18. “Understanding Genetics”.
  19. Nico B, Ribatti D (January 2012). “Morphofunctional aspects of the blood-brain barrier”. Current Drug Metabolism. 13(1): 50–60. doi:2174/138920012798356970PMID 22292807.
  20. “University of Utah Muscular Dystrophy”. Genome.utah.edu. 2009-11-28. Retrieved 2013-02-16.
  21. Bushby K, Finkel R, Birnkrant DJ, Case LE, Clemens PR, Cripe L, Kaul A, Kinnett K, McDonald C, Pandya S, Poysky J, Shapiro F, Tomezsko J, Constantin C (January 2010). “Diagnosis and management of Duchenne muscular dystrophy, part 1: diagnosis, and pharmacological and psychosocial management”. The Lancet. Neurology. 9(1): 77–93. CiteSeerX1.1.176.4466doi:10.1016/s1474-4422(09)70271-6PMID 19945913.
  22. Nicholson LV, Johnson MA, Bushby KM, Gardner-Medwin D, Curtis A, Ginjaar IB, den Dunnen JT, Welch JL, Butler TJ, Bakker E (September 1993). “Integrated study of 100 patients with Xp21 linked muscular dystrophy using clinical, genetic, immunochemical, and histopathological data. Part 2. Correlations within individual patients”. Journal of Medical Genetics. 30(9): 737–44. doi:1136/jmg.30.9.737PMC1016530PMID 8411068.
  23. Muntoni F (August 2001). “Is a muscle biopsy in Duchenne dystrophy really necessary?”. Neurology. 57(4): 574–5. doi:1212/wnl.57.4.574PMID11524463.
  24. Flanigan KM, von Niederhausern A, Dunn DM, Alder J, Mendell JR, Weiss RB (April 2003). “Rapid direct sequence analysis of the dystrophin gene”. American Journal of Human Genetics. 72(4): 931–9. doi:1086/374176PMC1180355PMID 12632325.
  25. Beksac, Mehmet Sinan; Tanacan, Atakan; Aydin Hakli, Duygu; Orgul, Gokcen; Soyak, Burcu; Balci Hayta, Burcu; Dincer, Pervin; Topaloğlu, Haluk (30 July 2018). “Gestational Outcomes of Pregnant Women Who Have Had Invasive Prenatal Testing for the Prenatal Diagnosis of Duchenne Muscular Dystrophy”. Journal of Pregnancy. 2018: 1–5. doi:1155/2018/9718316PMC6091284PMID30151283.
  26. “Duchenne Muscular Dystrophy Statement”. Drug Safety and Availability. US FDA. 2014-10-31. Archivedfrom the original on 2014-11-02.
  27. https://www.pfizer.com/news/press-release/press-release-detail/pfizers-new-phase-1b-results-gene-therapy-ambulatory-boys
  28. Dany A, Barbe C, Rapin A, Réveillère C, Hardouin JB, Morrone I, Wolak-Thierry A, Dramé M, Calmus A, Sacconi S, Bassez G, Tiffreau V, Richard I, Gallais B, Prigent H, Taiar R, Jolly D, Novella JL, Boyer FC (November 2015). “Construction of a Quality of Life Questionnaire for slowly progressive neuromuscular disease”. Quality of Life Research. 24(11): 2615–23. doi:1007/s11136-015-1013-8PMID26141500S2CID 25834947.
  29. Falzarano MS, Scotton C, Passarelli C, Ferlini A (October 2015). “Duchenne Muscular Dystrophy: From Diagnosis to Therapy”. Molecules. 20(10): 18168–84. doi:3390/molecules201018168PMC6332113PMID 26457695.
  30. Matthews E, Brassington R, Kuntzer T, Jichi F, Manzur AY (May 2016). “Corticosteroids for the treatment of Duchenne muscular dystrophy”. The Cochrane Database of Systematic Reviews. 5(5): CD003725. doi:1002/14651858.CD003725.pub4PMID27149418.
  31. Verhaert D, Richards K, Rafael-Fortney JA, Raman SV (January 2011). “Cardiac involvement in patients with muscular dystrophies: magnetic resonance imaging phenotype and genotypic considerations”. Circulation: Cardiovascular Imaging. 4(1): 67–76. doi:1161/CIRCIMAGING.110.960740PMC3057042PMID 21245364.
  32. “Railroading at the FDA”. Nature Biotechnology. 34(11): 1078. 2016-11-08. doi:1038/nbt.3733PMID27824847.
  33. “FDAetep”. 19 September 2016. Retrieved 8 July2019.
  34. “CHMP Advises Against Approval for Eteplirsen in DMD”. Medscape. Retrieved 2019-07-09.
  35. “Translarna – Summary of Product Characteristics”. UK Electronic Medicines Compendium. 24 April 2017. Retrieved 18 June2017.
  36. Commissioner, Office of the (20 February 2020). “FDA grants accelerated approval to first targeted treatment for rare Duchenne muscular dystrophy mutation”. FDA.

Tags: , ,