Huyết thống thai nhi (chọc dịch ối hoặc lấy mẫu máu mẹ)

Đặng Trần Hoàng | Tiến sĩ
Ngày đăng 25/12/2018
Bình chọn

 

XÉT NGHIỆM ADN HUYẾT THỐNG THAI NHI

 

Hiện nay, việc xét nghiệm huyết thống ADN đã có thể tiến hành ngay từ khi đứa trẻ còn trong bụng mẹ.

ADN thai nhi

Có 2 phương pháp xét nghiệm huyết thống thai nhi hiện đang được áp dụng tại Viện Công nghệ ADN và Phân tích di truyền như đề cập dưới đây:

 

1. Phương pháp xâm lấn – Chọc dò ối

 

Nước ối (Aminotic fluid) là môi trường bảo vệ thai nhi khỏi các tác động cơ học và sự thay đổi về nhiệt, ngoài ra còn có chức năng miễn dịch, có chứa các yếu tố tăng trưởng và cytokine, hoạt động như một nguồn dinh dưỡng, có vai trò quan trọng đối với sự sống còn và phát triển của thai nhi (Underwood và cs, 2005).

Nước ối xuất hiện từ ngày thứ 12 sau thụ thai. Trong ba tháng đầu của thai kỳ, nước ối được hình thành từ huyết tương của mẹ qua màng bào thai, sự khếch tán tự do này xảy ra hai chiều giữa nước ối và da của thai nhi, nhau thai và dây rốn. Trong ba tháng tiếp theo, nước ối vẫn có mức độ điện giải tương tự máu của thai nhi và mẹ, nhưng mức độ của các chất hữu cơ khác nhau rõ rệt (Tong và cs, 2009).

Trong nước ối có chứa các tế bào mầm của phôi hay các tế bào biệt hóa trưởng thành bao gồm các dòng tế bào thận, tim, phổi, gan và tế bào máu. Vì vậy, nước ối thường được sử dụng để nghiên cứu nhiễm sắc thể của thai nhi cũng như phân tích về quan hệ huyết thống. Hơn nữa có khoảng 1% tế bào trong nước ối có đặc tính đa năng đây chính là nguồn tế bào gốc thai nhi quý giá (Da Sacco và cs, 2010).

Chúng tôi sẽ tiến hành tách chiết ADN của thai nhi, làm xét nghiệm ADN xác nhận quan hệ huyết thống giữa thai nhi và người cha giả định.

 

Tuổi thai thích hợp để lấy mẫu dịch ối: 15 – 22 tuần.

 

image

 

Hình 1: Mô tả quá trình chọc ối

Cách thức lấy mẫu: kết hợp cùng lúc 2 thao tác: siêu âm và chọc hút.

  • Siêu âm: sóng dò siêu âm sẽ giúp xác định vị trí của bé trước khi chọc ối, nhằm tránh tình trạng kim chọc sẽ đâm trúng vào bé.
  • Chọc hút: Dùng một cây kim rỗng nòng, đâm xuyên qua thành bụng của thai phụ, vào túi ối, và hút dịch ối của thai nhi. Dịch ối này sẽ được dùng làm mẫu cho xét nghiệm ADN.

Lượng nước ối cần lấy khoảng từ 3 – 5ml.

Bảo quản:

Nước ối sau khi lấy cần được bảo quản ở nhiệt độ lạnh khoảng 4 – 8oC và chuyển ngay về Viện Công nghệ ADN và Phân tích di truyền trong thời gian sớm nhất.

 

2. Phương pháp không xâm lấn

 

Các chuẩn đoán trước sinh di truyền thống thường đòi hỏi một thủ tục xâm lấn nhất định, cụ thể lấy mẫu sinh thiết gai nhau (CVS) hoặc chọc ối, có nguy cơ sảy thai nhỏ (khoảng 0.5 – 1%). Tuy nhiên việc kể từ khi việc phát hiện ra các ADN thai nhi tự do (cell free fetus ADN – cff ADN) (Lo và các cộng sự, 1997) đã cho phép tiến hành các thử nghiệm an toàn hơn, sớm hơn dựa trên việc phân tích mẫu máu ngoại vi của mẹ một cách đơn giản – hay còn gọi là phương pháp xét nghiệm huyết thống trước sinh không xâm lấn.

Cơ sở khoa học: Các ADN thai nhi tự do (cff ADN) trong máu ngoại vi của người mẹ được phát hiện lần đầu vào năm 1997 và được giải phóng từ các tế bào nhau thai sau quá trình apoptosis (Alberry M và cs, 2007). Các ADN tự do này thường phản ảnh cấu trúc di truyền của em bé đang phát triển.

Các đoạn ADN tự do của thai nhi (cffADN) có độ dài khoảng 150 - 200bp, nhỏ hơn đáng kể so với kích thước các đoạn ADN của mẹ, điều này cho phép phân biệt cffADN với các đoạn ADN tự do của người mẹ (Li và cs, 2005). Tiến hành phân tích cấu trúc di truyền của các cffADN của thai nhi và người cha giả định để xác định mối quan hệ huyết thống.ADN tự do của thai nhi chiếm khoảng 11 – 13.4% ADN tự do có trong máu mẹ (Wang và cs, 2013) và xuất hiện từ sau 5 đến 7 tuần thai và tăng dần trong quá trình mang thai và giảm nhanh trong máu mẹ sau 24 giờ sau khi sinh con (Lo và cs, 1999).

image

Hình 2: Thai nhi và vai trò của Trophoblast

Hiện nay có một số phương pháp được phát triển để sàng lọc các ADN của bào thai như: phương pháp massively parallel shotgun sequencing (MPSS), phương pháp targeted massive parallel sequencing (t-MPS) và phương pháp single nucleotide polymorphism (SNP) (Dar P. và cs, 2016; Allen S. và cs, 2017).

Mẫu máu ngoại vi của mẹ lấy từ tĩnh mạch khi thai được tuần thứ 7 trở đi được dùng để tách chiết các cffADN trong xét nghiệm huyết thống không xâm lấn.

 

 

Tham khảo

        1. Underwood MA, Gilbert WM, Sherman MP. Amniotic fluid: not just fetal urine anymore. J Perinatol. 2005; 5:341 –348.
        2. Tong XL, Wang L, Gao TB, Qin YG, Qi YQ, Xu YP. Potential function of amniotic fluid in fetal development—novel insights by comparing the composition of human amniotic fluid with umbilical cord and maternal serum at mid and late gestation. J Chin Med Assoc. 2009; 72:368– 373.
        3. Da Sacco S, Sedrakyan S, Boldrin F, Giuliani S, Parnigotto P, Habibian R, Warburton D, De Filippo RE, Perin L. Human amniotic fluid as a potential new source of organ specific precursor cells for future regenerative medicine applications. J Urol. 2010; 183:1193 –1200
        4. Alberry M, Maddocks D, Jones M and et al. Free fetal DNA in maternal plasma in anembryonic pregnancies: confirmation that the origin is the trophoblast. Prenatal Diagnosis. Wiley-Blackwell. 2007. 27 (5): 415–8. 
        5. Li Y, Di Naro E and et al. Detection of paternally inherited fetal point mutations for beta-thalassemia using size-fractionated cell-free DNA in maternal plasma. JAMA. American Medical Association (AMA). 200 293 (7): 843–9.
        6. Wang E, Batey A, Struble C, Musci T, Song K, Oliphant A. Gestational age and maternal weight effects on fetal cell-free DNA in maternal plasma. Prenatal Diagnosis. 2013. 33 (7): 662–
        7. Lo YM, Zhang J, Leung TN, Lau TK, Chang AM, Hjelm NM. Rapid clearance of fetal DNA from maternal plasma. American Journal of Human Genetics. Elsevier BV. 1999. 64 (1): 218–24.
        8. Dar P, Shani H, Evans MI. Cell-free DNA: Comparison of Technologies. Clinics in Laboratory Medicine.  2016. 36 (2): 199–211.
        9. Allen S, Young E, Bowns B. Noninvasive prenatal diagnosis for single gene disorders. Current Opinion in Obstetrics & Gynecology. 2017. 29 (2): 73–7 

Bài viết liên quan

xét nghiệm ADN huyết thống thai nhi
XÉT NGHIỆM ADN HUYẾT THỐNG THAI NHI  
Testing of blood serum
XÉT NGHIỆM ADN HUYẾT THỐNG  

Bình luận

Quy trình dịch vụ

  • Đăng ký
  • Thu mẫu
  • Thanh toán
  • Nhận kết quả

Câu hỏi thường gặp

  • Tất cả có tới hàng chục hệ thống gen khác nhau dùng cho việc này. Tùy thuộc vào từng nước hoặc khu vực mà người ta sử dụng hệ thống gen nào. Cho đến nay có 3 hệ thống gen được dùng phổ biến nhất trên thế giới. Đó là 2 hệ thống 16 gen đang dùng ở Trung tâm ADN và hệ thống CODIS 13 gen của FBI, Mỹ. Vì cả 13 gen trong hệ thống này nằm gọn trong thành phần 16 gen của 2 hệ thống kia, nên Trung tâm thường xuyên dùng 2 hệ 16 gen, vì mỗi hệ có thừa đủ số liệu để so sánh đối chiếu với loại thứ 3 của FBI. Thêm nữa, tất cả các hệ thống gen còn lại vừa nhắc tới ở trên đều có thành phần gen nằm trong 2 bộ 16 gen mà Trung tâm ADN đang sử dụng.

  • Trẻ con có thể xét nghiệm từ khi chưa sinh ra, như vậy không có giới hạn nào về tuổi khi xét nghiệm huyết thống. Có thể thực hiện xét nghiệm ADN với một lượng mẫu rất nhỏ (1/4 giọt máu) hoặc một tăm bông chứa các tế bào trong miệng, hoặc một mẩu nhỏ cuống rốn đã rụng, như vậy trẻ sơ sinh có thể xét nghiệm rất dễ dàng. Để xét nghiệm huyết thống trước khi sinh có thể dùng nước ối có chứa các tế bào của thai nhi khi thai mới 3 tháng.

  • Không cần. Xét nghiệm huyết thống bằng ADN có thể thực hiện không cần mẹ. Nếu như các mẫu ADN của bố nghi vấn và con không khớp với nhau thì khả năng người đàn ông là bố của đứa bé bị loại trừ 100%. Nếu các mẫu khớp với nhau thì khả năng người đàn ông đó là bố đạt tới 99,999% hoặc cao hơn.

  • Xét nghiệm huyết thống có thể tiến hành với nhiều loại tế bào như mẫu máu, tế bào bên trong má, mẫu mô, móng tay, gốc tóc, cuống rốn v.v…Các xét nghiệm sẽ có cùng độ chính xác như nhau, vì tất cả các tế bào trong cùng một cơ thể đều có cùng một loại ADN.

  • Xét nghiệm huyết thống bằng ADN là cách xét nghiệm chính xác nhất hiện nay. Nếu các mẫu ADN của mẹ, con và bố nghi vấn khớp với nhau trong từng gen thì độ chính xác có quan hệ huyết thống đạt tới 99.999% hoặc cao hơn. Điều đó có nghĩa là trên thực tế người đàn ông được xét nghiệm ở đây chính là bố của người con.

    Nếu hai mẫu ADN của người con và bố nghi vấn không khớp với nhau từ hai gen trở lên, thì người đàn ông này phải loại trừ 100% và khả năng để là cha của đứa trẻ là 0%.
     

Kết nối với chúng tôi